Thứ Ba, 8 tháng 2, 2011

TINH THẦN CỦA PHÉP ĐÁNH CÔN


TINH THẦN CỦA PHÉP ĐÁNH CÔN
1.   Điều thứ 01:
Trong lúc tiến lui, đánh đở,cần phải che phủ lấy chân tay.
2.   Điều thứ 02:
Hai tay điều khiển cây côn tuốt ra, thâu vào phải linh hoạt bất thường, tùy theo từng lúc mà sử dụng.
3.   Điều thứ 03:
Côn đánh ra thân mình và đầu phải lượng theo chiều côn bên địch mà tránh đi hay cúi xuống.
4.   Điều thứ 04:
Người khỏe dùng côn thì thật là hay nhưng chớ nên cậy lực, rủi đánh hụt thì mất tất cả, nghĩa là đánh phải có chừng mực, miếng nào chắc ăn lắm mới đánh tận lực.
5.   Điều thứ 05:
Lối côn phóng, lui, tiến, thâu nhanh nhẹn thì tất lợi hại, trong lúc phóng thâu cần phải gạt đở theo chiều côn của địch đánh tới.

Các cụ xưa bình Chiêm đánh Tống cũng nhờ các môn võ đặc biệt, đó là Võ Việt Nam chánh tông, không nói ai cũng hiểu rằng côn là một món binh khí rất lợi hại và tiện dụng hằng ngày, vì côn không có lưỡi sắc, mũi nhọn mà có thể chống đở với đủ món binh khí khác. Nhưng các đòn đã gọi là hay, là hiểm và thứ nhất là các đòn bí truyền thì không dùng sức lắm, phải cho nhanh nhẹn, tinh tường, lấy mắt mà lượng đòn của địch, lanh quá cũng không được, mà chậm thì cũng hõng, lấy trí tuệ sai khiến chân, tay, đầu và mình.
Nói tóm lại, là cần có công phu và từng trải thì mới có thể gọi là thực hành được.

SƯ TRƯỞNG TRƯƠNG THANH ĐĂNG

NÉN HƯƠNG HOÀI NIỆM


BÀI CA CỔ:

              NÉN HƯƠNG HOÀI NIỆM
( Kính tặng Sư Trưởng Võ Đường Sa Long Cương, sáng tác năm 1967 của soạn giả Viễn Châu)

Ngâm:
          Sa Long Cương một võ đường gương mẫu,
          Đã mấy đời noi dấu bậc tiền nhân,
          Máu kiêu hùng nối tiếp giống Tiên Long,
          Làm rạng rỡ oai hùng trang sử Việt.

Vọng cổ:

1/ Sa Long Cương hãy thắp nén hương với tấm lòng thành kính, để tri ân nhị vị Sư Tổ đã truyền lưu nền võ thuật làm vẻ vang rạng rỡ giống Tiên … Rồng.
Hoài niệm người xưa với tấc dạ chân thành. Đây bó hoa thơm, đây ly rượu lạt với những tấm lòng tưởng niệm tiền nhân, ăn trái phải nhớ kẻ trồng cây. Ngày hôm nay mồng bốn tháng mười giữa võ đường ta họp mặt nhau đây chấp hai tay để chân thành tưởng nhớ.

2/Một ly rượu nhớ ơn người thuở trước và nói lên câu bằng hữu chi tình, người bốn phương nhưng là một gia đình. Cảnh trang nghiêm giữa võ đường yêu mến, bên bạn bên thầy gắn bó mối tình thâm. Ngày thiêng liêng nhớ công đức người xưa đã truyền lại cho đời nền võ thuật, đoàn hậu tấn hãy một lòng tiến bước noi dấu oai hùng của thế hệ tiền nhân.

3/ Hãy quên hẳn những ngày phóng đãng và hãy xa dần chốn trụy lạc xa hoa, một tinh thần bất khuất trung kiên, một thể xác cang cường dũng mãnh, bởi đã lãnh hội những đường côn bí hiểm và những đường quyền của một vị danh sư.

          Thơ:
                   Ngày xưa bao gái anh thư,
                   Bao trai hào kiệt đều nhờ võ công,
                   Nêu cao nòi giống Tiên Long,
                   Nhân dân lạc nghiệp núi sông thanh bình.

          Ngâm:
                   Ngày mồng bốn tháng mười ngày kỷ niệm,
                   Cảnh trang nghiêm khói quyện đỉnh trầm hương,
                   Xin nhắc hoài ba tiếng Sa Long Cương,
                   Nơi gặp gỡ của tâm hồn yêu võ thuật.
         
Vọng Cổ:

4/ Sư tổ của ta với những đường quyền tuyệt kỹ, đã giữ vững non sông đánh đuổi bọn xâm … loàn. Non nước nghìn xưa bền vững âu vàng. Quyền thì có Lão Mai, La Hán, Ngọc Trản, Phượng Hoàng, Tứ Hải, Bát Tiên.

          Thơ:
                   Thiếu Lâm Quyền Pháp, Mai Hoa,
                   Thần Đồng , Long Hổ Cùng Là Thiền Sư,
                   Tứ Môn nhớ bởi thiên tư,
                   Lâm Xung, Cam Phượng quý như ngọc vàng.

5/ Binh khí của ta với bao lần chiến thắng khiến bọn xâm lăng phải khiếp đảm kinh hồn. Đất Việt ngàn năm vang tiếng anh hùng, với binh khí thêm thập phần huyền ảo, Song Giản, Trung Bình , Độc Kiếm Lê Hoa.

          Thơ:
                   Song Tô, Xong Xỉ … Hồng Gia,
                   Đường roi Nhấp Tống, Song Đầu, Đại Đao.
                   Liên hườn tuyệt diệu làm sao,
                   Thái Sơn, Song Phủ tài cao hơn người.

6/ Trước bàn thờ nghi ngút khói hương xin thành kính tri ân Sư Tổ, đoàn hậu tấn nguyện noi gương tiền bối, cố gắng đêm ngày rèn luyện võ công, mong ngày mai giúp ích non sông, được kiêu hãnh là người trai đất Việt. Hãy rèn luyện một tâm hồn bất khuất và đừng quên câu “Cây Cội - Nước Nguồn”
Hỡi ai là môn đệ Sa Long Cương, hãy im lặng giữa phút giây thành kính.

          Thơ:
                   Võ công đất việt muôn đời,
                   Mùng bốn tháng mười ta tưởng niệm người xưa.

36 TỬ HUYỆT


TỬ HUYỆT
Toàn bộ thân thể có 108 huyệt nguy hiểm, trong đó có 72 huyệt nói chung khi bị điểm, đánh không đến nổi gây ra tử vong, còn lại 36 huyệt trí mạng có thể dẫn đến tử vong, còn gọi là TỬ HUYỆT.
Trong khi va chạm quyền cước, có thể trở thành SÁT THỦ nếu thực hiện đòn đánh vào các Tử Huyệt như: Bách Hội, Thần Đình, Thái Dương, Nhĩ Môn, Tình Minh, Nhân Trung, Á Môn, Phong Trì, Nhân Nghênh, Đản Trung, Cựu Vĩ, Cự Khuyết, Thần Khuyết, Khí Hải, Quan Nguyên, Trung Cực, Khúc Cốt, Ưng Song, Nhủ Trung, Nhũ Căn, Kỳ Môn, Chương Môn, Thương Khúc, Phế Du, Quyết Âm Du, Tâm Du, Thanh Du, Mệnh Môn, Chí Thất, Khí Hải Du, Vi Lư, Kiến Tỉnh, Thái Uyên, Tâm Túc Ly, Tâm âm giao, Dung Tuyền .
36 huyệt nguy hiểm ở trên, sau khi bị điểm trúng đều có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng.
A.- VỊ TRÍ CÁC HUYỆT NGUY HIỂM VÙNG ĐẦU, CỔ:
1.- Huyệt Bách hội:
- Vị trí: Tại giao điểm của tuyến chính giữa đỉnh đầu và đường nối liền phần đầu nhọc trên của 2 tai.
- Khi bị điểm trúng: Sẽ choáng váng, ngã xuống đất bất tỉnh nhân sự.
2.- Huyệt Thần Đình:
- Vị trí: Từ mép tóc trước trán lên 5 cm.
- Khi bị điểm trúng: Sẽ choáng váng, ảnh hưởng đến não.  
3.- Huyệt Thái Dương: 
- Vị trí: tại chổ lõm phía đuôi chân mày.
- Khi bị điểm trúng: Sẽ choáng váng, mắt tối lại, ù tai.
4.- Huyệt Nhĩ môn:
- Vị trí: Tại chổ khuyết ở trước vành tai, khi há miệng hiện ra chỗ lõm.
- Khi bị điểm trúng: Ù tai, choáng đầu ngã xuống đất.
5.- Huyệt Tình minh:
- Vị trí:Tại chỗ góc khóe mắt trong, đầu chân mày.
- Khi bị điểm trúng: Có thể hôn mê hoặc hoa mắt ngã xuống đất.
6.- Huyệt Nhân trung:
- Vị trí: Dưới chóp mũi.
- Khi bị điểm trúng: Sẽ choáng đầu, hoa mắt.
7.- Huyệt Á môn:
- Vị trí: Sau ót, chỗ lõm giữa gai đốt sống cổ thứ nhất và đốt sống cổ thứ 2.
- Khi bị điểm trúng: Đập vào khu diên tuỷ (một phần não sau nối tuỷ sống) sẽ không nói được, choáng đầu, ngã xuống đất bất tỉnh. 
 8.- Huyệt Phong trì: 
- Vị trí: Phía sai dái tai, chổ lõm dưới xương chẩm.
- Khi bị điểm trúng: Đập vào trung khu diên tuỷ, hôn mê bất tỉnh. 
9.- Huyệt Nhân nghênh:
- Vị trí: Yết hầu, ngang ra 2 bên 5cm.
- Khi bị điểm trúng: Khí huyết ứ đọng, choáng đầu.
B.-.. CÁC HUYỆT NGUY HIỂM Ở VÙNG BỤNG, NGỰC: 
1.- Huyệt Đản trung:  
- Vị trí: Giữa hai đầu vú.
- khi bị điểm trúng: Nội khí tản mạn, lòng dạ hoảng loạn, thần trí không được rõ ràng.
2.- Huyệt Cưu vĩ:
- Vị trí: Trên rốn 15cm.
- Khi bị điểm trúng: Đập vào động mạch vách bụng, tĩnh mạch, gan, mật, chấn động tim, đọng máu, có thể gây tử vong. 
3.- Huyệt Cự khuyết:
- Vị trí: Trên rốn 9cm.
- Khi bị điểm trúng: Đập vào gan, mật, chấn động tim, có thể gây tử vong.
4.- Huyệt thần khuyết: 
- Vị trí: Tại chính giữa rốn.
- Khi bị điểm trúng: Đập vào thần kinh sườn, chấn động ruột, bàng quan, tổn thương đến khí, làm thân thể mất đi sự linh hoạt.
5.- Huyệt Khí hải:
- Vị trí: Dưới rốn 4cm.
- khi bị điểm trúng: Đập vào vách bụng, tĩnh động mạch và sườn, phá khí, máu bị ứ lại làm thân thể mất đi sự linh hoạt.
6.- Huyệt Quan Nguyên: 
- Vị trí: Dưới rốn 7cm.
- Khi bị điểm trúng: Đập vào động mạch vách bụng dưới, tĩnh mạch và thần kinh sườn gây chấn động ruột, khí huyết ứ đọng. 
7.- Huyệt Trung cực: 
- Vị trí: Dưới rốn 10cm.
- Khi bị điểm trúng: Đập vào động mạch vách bụng, tĩnh mạch và chấn động thần kinh kết tràng chữ S, thương tổn khí cơ.
8.- Huyệt Khúc cốt: 
- Vị trí: Tại xương khung chậu bụng dưới - hạ bộ.
- Khi bị điểm trúng: Thương tổn đến khí cơ toàn thân, khí huyết ứ đọng.
9.- Huyệt ưng song:
- Vị trí: Trên vú, tại xương sườn thứ 3.
- Khi bị điểm trúng: Đập vào thần kinh sườn và thần kinh trước ngực cho đến động, tĩnh mạch, chấn động làm tim ngừng cung cấp máu, gây choáng váng.
10.- Huyệt Nhũ trung: 
- Vị trí: Tại chính giữa đầu vú.
- Khi bị điểm trúng: Đập vào thần kinh sườn và động mạch sung huyết (nhồi máu) phá khí. 
11.- Huyệt Nhũ căn: 
- Vị trí: Dưới đầu vú 1 đốt xương sườn.
- Khi bị điểm trúng: Do phía trong bên trái là quả tim, nên khi bị điểm trúng sẽ đập vào tim, gây sốc dễ dẫn đến tử vong. 
12.- Huyệt Kỳ môn:
- Vị trí: Dưới núm vú, tại xương sườn thứ 6.
- Khi bị điểm trúng: Đập vào gan, lá lách, chấn động cơ xương, khí huyết ứ đọng.
13.- Huyệt Chương môn: 
- Vị trí: Tại tuyến giữa nách, mút cuối xương sườn nổi số 1, khi co khuỷu tay khép vào nách, nó nằm ngang với điểm cuối cùng của khuỷu tay.
- Khi bị điểm trúng: Vì phí trong bên phải là gan, nghiêng phía dưới là lá lách, nên khi bị điểm trúng sẽ đập vào gan hoặc lá lách, phá hoại màng cơ xương, cản trở sự lưu thông của máu và tổn thương đến khí.
 

14.- Huyệt Thương khúc:
- Vị trí: Giữa bụng tại bao tử, ngang ra 2 bên 5cm.
- Khi bị điểm trúng: Đập vào thần kinh sườn và đọng mạch vách bụng, chấn đọng ruột, tổn thương khi, ứ đọng máu. 
C.- CÁC HUYỆT NGUY HIỂM TẠI PHẦN LƯNG, EO VÀ MÔNG:
1.- Huyệt Phế du:
- Vị trí: Tại mỏm gai đốt sống ngực thứ 3, ngang ra 2 bên lưng 4cm.
- Khi bị điểm trúng: Đập vào động mạch xương sườn thứ 3, tĩnh mạch và thần kinh, chấn động tim, phổi, phá khí. 
2.- Huyệt Quyết âm du:
- Vị trí: Tại phía dưới mỏm gai đốt sống ngực thứ 4, ngang ra 2 bên lưng 4cm.
- Khi bị điểm trúng: Đập vào thành tim, phổi, phá khí cơ, dễ gây tử vong. 
3.- Huyệt Tâm du:
- Vị trí: Tại mỏm gai đốt sống ngực thứ 5, ngang ra 2 bên lưng 4cm.
- Khi bị điểm trúng: Đập vào thành tim, phá huyết, thương tổn khí.
4.- Huyệt Thận du: 
- Vị trí: Tại mỏm gai đốt sống eo lưng thứ 2, ngang ra 2 bên lưng 4 cm.
- Khi bị điểm trúng: Đập vào quả thận, tổn khí cơ, dễ dẫn đến liệt nửa người.
5.- Huyệt Mệnh môn: 
- Vị trí: Giữa đốt sống thắt lưng thứ 2 và thứ 3.
- Khi bị điểm trúng: Đập vào xương sườn, phá khí cơ, dễ gây ra liệt nửa người.
6.- Huyệt Chí thất:
- Vị trí: Tại mỏm gai đốt sống eo lưng thứ 2 ngang ra 2 bên 6cm.
- Khi bị điểm trúng: Đập vào động mạch eo lưng, tĩnh mạch và thần kinh, chấn động thận, thương tổn nội khí.
7.- Huyệt Khí hải du:
- Vị trí: Tại mỏm gai đốt sống eo lưng thứ 3, ngang ra 2 bên 4cm.
- Khi bị điểm trúng: Đập vào quả thận, cản trở huyết, phá khí.
8.- Huyệt Vĩ lư: 
- Vị trí: Tại giữa chỗ hậu môn và xương cùng.
- Khi bị điểm trúng: Gây trở ngại đến sự lưu thông của khí trên toàn thân, khí tại huyệt Đan điền không dâng lên được.
D.- CÁC HUYỆT VỊ NGUY HIỂM Ở TAY VÀ CHÂN: 
1.- Huyệt Kiên tỉnh:
- Vị trí: Chỗ cao nhất phần vai.
- Khi bị điểm trúng: Cánh tay tê bại, mất đi sự linh hoạt.
2.- Huyệt Thái uyên: 
- Vị trí: Ngữa lòng bàn tay, tại chỗ lõm lằn ngang cổ tay.
- Khi bị điểm trúng: Cản trở bách mạch, tổn thương nội khí.
3.- Huyệt Túc tam lý: 
- Vị trí: Bờ dưới xương bánh chè xuống 6cm, trước xương ống chân ngang ra ngoài 1 ngón tay.
- Khi bị điểm trúng: Chi dưới tê bại, mất đi sự linh hoạt.
4.- Huyệt Tam âm giao:
- Vị trí: Tại đầu nhọn mắt cá chân thẳng lên 6 cm, sát bờ sau xương ống chân.
- Khi bị điểm trúng: Chi dưới tê bại, mất linh hoạt, thương tổn khí ở huyệt Đan điền.
5.- Huyệt Dũng tuyền: 
- Vị trí: Nằm tại lòng bàn chân, khi co ngón chân xuất hiện chỗ lõm.
- Khi bị điểm trúng: Thương tổn đến khí tại huyệt Đan điền, khí không thể thăng lên được, phá khinh công.
Tóm lại, 36 huyệt nguy hiểm ở trên, sau khi bị điểm trúng đều có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

LUYỆN QUYỀN và LUYỆN CÔNG


LUYỆN QUYỀN và LUYỆN CÔNG
Tục ngữ có câu:
“ Lực bất đả quyền, quyền bất đả công”
Nghĩa là người có sức mạnh không thể đánh bại người có quyền thuật, người có quyền thuật không thể đánh bại người có luyện công.
Điều đó cho thấy một nhận xét hết sức đúng đắn: “ Là người tinh thông ở Lực không bằng người tinh thông ở Quyền, mà người tinh thông ở Quyền thì không bằng người tinh thông ở Công”.
Do đó luyện quyền mà không luyện công thì chẳng khác gì sợi tơ trước gió, cánh bèo trên sông, lập lờ vô định, chẳng lấy đâu làm căn cứ.

Vì vậy:
“Luyện quyền pháp không thể không luyện công pháp”.
       
        Luyện quyền phải luyện công
        Công quyền đều phải có
        Trước phải luyện công
Bộ pháp cho thông
Sau mới luyện quyền
Hiệu quả mau chóng.

Luyện quyền phải chăm
Luyện công nên gắn
Từng thế luyện thành
Định khí bình thần
Vận kình tay chân
Khí hành châu thân.

Luyện công có phép
Chia làm ba phần
Mỗi ngày hai lượt
Không sót không quên
Lâu ngày tất nên
Nhảy nhót nghiêng ngữa
Ngăn chặn đánh đở.

Luyện quyền luyện công
Như hổ như rồng
Các thế đều thuộc
Quyền pháp mới thông.

Người học võ cần phải luyện quyền và luyện công tận tâm tận lực cho tới khi kỹ thuật không còn là kỹ thuật suông, mà phải là phản ứng tự nhiên , siêu thần nhập hóa một cách vi diệu vậy.

LÃO ĐÔNG TÀ